Trang chủSep_Path.pngTrợ giúp pháp lýSep_Path.pngThủ tục khởi kiệnSep_Path.pngTư vấn điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

Tư vấn điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

Thứ hai, 07/01/2019
424

Chào luật sư, tôi là đảng viên về hưu và mong muốn tìm hiểu các thủ tục và điều kiện khởi kiện các tranh chấp dân sự để hỗ trợ cho bạn bè, người thân khi cần thiết, xin luật sư hướng dẫn giúp.

Tư vấn điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

Chào bạn, Luật sư xin trợ giúp bạn điều kiện khởi kiện vụ án dân sự để bạn tham khảo

1.Điều kiện về Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự

Theo Điều 161, Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự các chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định để tham gia vào quan hệ tố tụng dân sự.

1.1 Người khởi kiện phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự

-Cá nhân:

+ Người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật tố tụng dân sự.

+ Người chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự; người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi thì phải có người đại diện hợp pháp thực hiện quyền khởi kiện.

+ Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được tự tham gia TTDS về những việc có liên quan đến hợp đồng lao động, giao dịch dân sự mà họ tham gia.

-Cơ quan, tổ chức :

+ Do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng. Người đại diện hợp pháp của cơ quan đó là người do luật quy định hoặc được chỉ định trong giấy tờ uỷ quyền hợp pháp.

+ Cơ quan, tổ chức phải là những cơ quan được thành lập hợp pháp, thông thường là pháp nhân .

1.2 Chủ thể khởi kiện có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, hoặc chủ thể khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác, bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng.

- Khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước: Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình; Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động; Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện TTDS để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.

- Khởi kiện theo nguyên tắc thừa kế quyền và nghĩa vụ: các trường hợp hợp nhất pháp nhân, sáp nhập pháp nhân, chia tách pháp nhân (các Điều 94, 95, 96 BLDS ).

1.3 Chủ thể khởi kiện không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền khởi kiện. Tức là đương sự có quyền khởi kiện nhưng lại bị hạn chế về thời gian.

2. Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

VADS chỉ được thụ lí khi đơn được gửi đến Tòa án thuộc đúng thẩm quyền. Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền theo loại việc, theo cấp, theo lãnh thổ của Tòa án quy định tại các Điều 25, 27, 29, 33, 34, 35, 36.

Những quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định khá đầy đủ và chi tiết. Khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án sẽ xem xét xem vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình không (đúng loại việc, cấp, lãnh thổ chưa). Sau đó, Tòa án phải xác định đó là loại tranh chấp gì để xác định luật áp dụng cho phù hợp.

Tuy nhiên không phải mọi vụ án dân sự đều áp dụng nguyên tắc này:

- Một số tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

+ Tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại sẽ được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài theo Luật Trọng tài Thương mại 2010 . Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.

+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Chủ tịch Uỷ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

+  Tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại trong lĩnh vực cạnh tranh, cơ quan giải quyết tranh chấp là một cơ quan chuyên trách được gọi là Hội đồng cạnh tranh do Chính phủ thành lập (Điều 53 Luật Cạnh tranh 2004).

- Một số tranh chấp phải giải quyết tại cơ quan khác trước khi khởi kiện ra Tòa án khi chủ thể khởi kiện không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó:

+ Các tranh chấp về quyền sử dụng đất.

+ Tranh chấp lao động.

Việc phân định thẩm quyền của Tòa án giúp hợp lí hóa bộ máy nhà nước, các Tòa án làm việc hiệu quả hơn, góp phần tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi của mình .

3. Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật.

Một vụ án chỉ được khởi kiện một lần nếu vụ án đó đã được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu đương sự không đồng ý với bản án hay quyết định đó thì có thể kháng án.

Tuy nhiên không áp dụng nguyên tắc này trong một số trường hợp: Bản án, quyết định bác đơn xin li hôn; Yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại; Xin thay đổi người quản lí di sản; Vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Ví dụ: Trường hợp vợ đang mang thai, nuôi con dưới 06 tháng tuổi, nếu người chồng gửi đơn xin li hôn thì Tòa án sẽ bác đơn của anh này. Tức là anh ta đã khởi kiện và đã có bản án của Tòa án. Tuy nhiên, anh ta có quyền khởi kiện lại vì yêu cầu chưa được đáp ứng. Thời gian khởi kiện lại là sau 1 năm kể từ ngày bị bác đơn, với điều kiện là vợ không mang thai, không nuôi con dưới 06 tháng tuổi.

Pháp luật quy định một số trường hợp ngoại lệ không áp dụng nguyên tắc này đã thể hiện tính nhân đạo của luật pháp. Do đó trong những trường hợp cụ thể thì cần áp dụng nguyên tắc này một cách linh hoạt.

Mọi vướng mắc sẽ được giải đáp ngay lập tức bởi các luật sư khi quý khách hàng gửi câu hỏi, gửi yêu cầu tới 19006196. Tổng đài tư vấn pháp luật của Công ty Luật Trí Nam tiếp nhận cuộc gọi của quý vị vào tất cả khung giờ hành chính trong tuần.