Trang chủSep_Path.pngHợp đồngSep_Path.pngQuy định về hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

Quy định về hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

Thứ tư, 21/06/2017
175

Xin hỏi luật sư pháp luật hiện hành quy định như thế nào về hợp đồng bảo hiểm. Trách nhiệm pháp lý của các bên khi hợp đồng bảo hiểm vô hiệu như thế nào? (Nội dung câu hỏi được tóm tắt, rút gọn đảm bảo sự bảo mật thông tin của người liên hệ)

Quy định về hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

Câu trả lời của luật sư: Hợp đồng bảo hiểm cũng là một hợp đồng dân sự, vì thế hợp đồng bảo hiểm được coi là có hiệu lực cũng phải thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự . 

Dựa trên Bộ luật dân sự thì điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm gồm:

- Bên mua bảo hiểm phải có năng lực hành vi dân sự (nếu là cả nhân) hoặc năng lực pháp luật dân sự (nếu là tổ chức), bên bảo hiểm phải có năng lực pháp luật dân sự;

- Mục đích và nội dung của hợp đồng bảo hiểm không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- Các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm hoàn toàn tự nguyện;

- Hợp đồng bảo hiểm phải được giao kết bằng văn bản.

Hợp đồng bảo hiểm không đáp ứng một trong các điều kiện có hiệu lực nêu trên được xem là hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

Khi một hợp đồng vô hiệu, người ta xem nó như chưa bao giờ tồn tại và chưa bao giờ phát sinh hiệu lực. Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định cụ thể về các trường hợp hợp đồng bảo hiểm vô hiệu như sau:

Thứ nhất, bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Những quyền lợi chưa phát sinh hoặc đã chấm dứt thì không phải là quyền lợi có thể được bảo hiểm. Kể cả khi thời hạn có hiệu lực của hợp đồng vẫn còn nhưng bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm thì hợp đồng cũng sẽ vô hiệu.

Thứ hai, tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại. Đối tượng bảo hiểm là một trong những yếu tố không thể thiếu trong nội dung hợp đồng bảo hiểm. Nếu không xác định được đối tượng bảo hiểm, bên bảo hiểm không thể thực hiện nghĩa vụ gánh chịu rủi ro cho bên được bảo hiểm được. Đối tượng bảo hiểm không tồn tại cũng tể hiện việc bên bảo hiểm có sự lừa dối hoặc khiến cho bên bảo hiểm nhầm lẫn, và dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng.

Thứ ba, tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra. Như trên đã phân tích, sự kiện bảo hiểm phải là sự kiện khách quan, các bên không mong muốn xảy ra và không thể biết được tại thời điểm giao kết hợp đồng. Trường hợp bên mua bảo hiểm đã biết sự kiện bảo hiểm chắc chắn sẽ xảy ra hoặc đang xảy ra mà vẫn cố tình giao kết hợp đồng thì điều đó là sự lừa dối đối với bên bảo hiểm.

Thứ tư, bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm. Lừa dối được hiểu là hành vi trái pháp luật mang tính chất cố ý của một người nhằm làm cho người khác nhầm lẫn về chủ thể, về tính chất của đối tượng hay nội dung của hợp đồng nên đã thể hiện ý chí mong muốn giao kết hợp đồng và đã xác lập hợp đồng có lợi cho người có hành vi trái pháp luật trên hoặc cho người thứ ba. Trong hợp đồng bảo hiểm, hành vi lừa dối có thể là hành vi có chủ ý của bên mua bảo hiểm trong việc cung cấp cho bên bảo hiểm những thông tin sai lệch về đối tượng được bảo hiểm hoặc cố ý không cung cấp cho bên bảo hiểm những thông tin cần thiết về đối tượng bảo hiểm. Hoặc bên bảo hiểm đưa ra những thông tin không chính xác về khả năng cung cấp, thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm, để bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng.

Việc xử lý hợp đồng bảo hiểm vô hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự :

- Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

- Khi hợp đồng bảo hiểm vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi trong việc gây thiệt hại phải bồi thường.

Mọi thắc mắc các bạn có thể liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật của công ty Luật SP 19006196 để được các luật sư của chúng tôi giải đáp!