Trang chủSep_Path.pngHợp đồngSep_Path.pngChủ thế hợp đồng bỏ trốn phải xử lý thế nào?

Chủ thế hợp đồng bỏ trốn phải xử lý thế nào?

Thứ hai, 05/02/2018
396

Xin chào luật sư, phía công ty tôi có ký một hợp đồng xây dựng với một công ty để tiến hành xây dựng tòa nhà mà bên tôi định làm trụ sở. Hợp đồng đã thực hiện được 6 tháng, thì có vấn đề phát sinh, bên kia do làm ăn thua lỗ nên đã bỏ trốn đến nay vẫn chưa tìm được ở đâu. Chúng tôi có trình báo với cơ quan công an nhưng chưa được giải quyết dứt điểm, lại gây ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng hoàn thành công việc của bên tôi. Vậy xin hỏi luật sư, hợp đồng đã ký kết giờ xử lý như thế nào? Làm thế nào để bên tôi đòi lại được tiền, được bồi thường những tổn thất xảy ra. (Câu hỏi được rút gọn đảm bảo việc bảo mật thông tin cho người hỏi)

Câu trả lời của luật sư: Người bị Tòa án tuyên bố là mất tích theo quy định của Điều 78 Bộ luật dân sự  như sau:

“1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.”

Theo quy định của Điều 79 Bộ Luật Dân sự  thì quyền nhân thân, quyền tài sản của người bị tuyên bố đã mất tích được đảm bảo như sau:

“Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật này.

Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.”

Như vậy, Toà án sẽ chỉ định người thân thích của người mất tích quản lý tài sản của người mất tích. Vì thế, khi người bị Tòa án tuyên bố là mất tích được nhận di sản thừa kế thì người thân thích của người mất tích sẽ nhận và quản lí phần di sản thừa kế đó thay cho người mất tích. Sau này nếu người bị mất tích này trở về thì những người có nghĩa vụ quản lý tài sản đó có trách nhiệm chuyển giao lại sau khi đã được thanh toán chi phí quản lý (nếu có yêu cầu).

Vì vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì người bị Tòa án tuyên bố là mất tích hoàn toàn có quyền hưởng phần di sản thừa kế của mình.

Mọi thắc mắc các bạn có thể liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật của Công ty Luật Trí Nam19006196 để được các luật sư của chúng tôi giải đáp!