Trang chủSep_Path.pngTrợ giúp pháp lýSep_Path.pngThủ tục đăng ký độc quyền sản phẩmSep_Path.pngBản quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Bản quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Thứ năm, 31/01/2019
56

Từ thực tế thực hiện các thủ tục đăng ký bản quyền tác giả chúng tôi nhận thấy rằng việc đăng ký bản quyền tác giả cho tác phẩm kiến trúc chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến những tình huống đáng tiếc cho tác giả và chủ sở hữu của tác phẩm.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Nghị định 22/2018/ND – CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan thì tác phẩm kiến trúc là các tác phẩm thuộc loại hình kiến trúc như Bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nội thất, phong cảnh; Công trình kiến trúc.

Tác phẩm kiến trúc là một đối tượng đặc biệt vì nó có mối liên quan tới công trình xây dựng, đó là cơ sở để thực hiện công trình xây dựng trên thực tế. Đồng thời với việc bảo hộ quyền tác giả còn phát sinh thêm quyền nhân thân của tác giả, tức là không cho người khác tự tiện tiến hành sửa đổi công trình vì điều này đã gián tiếp làm ảnh hưởng đến tác phẩm kiến trúc của tác giả.

Về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc cần được quan tâm đặc biệt, nhất là đối với tác phẩm kiến trúc là công trình xây dựng. Bởi, công trình được xây dựng có sự tham gia của các tác nhân, như: Tác giả; tổ chức, cá nhân đầu tư (nhà đầu tư); chính quyền (nhà quản lý). Do đó, các tác nhân tham gia có thể thỏa thuận về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ. Điều này là cần thiết để bảo vệ tác phẩm kiến trúc khi trong thực tế có những can thiệp vào tác phẩm kiến trúc, như: Sửa chữa, cải tạo, chỉnh trang hay phá bỏ.

Trên thực tế, việc bị sao chép, nhân bản công trình kiến trúc có giá trị không phải là chuyện hiếm gặp đối với ngành kiến trúc. Ví dụ cụ thể như kiến trúc xanh và những ngôi nhà tre rất đặc trưng của kiến trúc Việt của kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa đã nhiều lần bị sao chép bởi những kiến trúc sư trong nước và quốc tế. Việc sao chép ý tưởng từ một tác phẩm kiến trúc là vô cùng đơn giản ở thời đại thông tin mở rộng như hiện nay vì vậy các tác giả, kiến trúc sư đang, đã và sẽ tạo nên một tác phẩm kiến trúc nói riêng và các tác giả của các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học nói chung cần phải quan tâm hơn nữa về việc đăng ký bản quyền tác giả, tạo cơ sở pháp lý cho tác phẩm của mình khi có tranh chấp hay quyền lợi của tác giả bị xâm phạm thì đã có cơ sở để bảo vệ mình.

Quyền tác giả của tác phẩm kiến trúc

Về thủ tục đăng ký bản quyền tác giả về tác phẩm kiến trúc như sau:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan: Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc người được ủy quyền nộp đơn ký tên và ghi đầy đủ thông tin về người nộp đơn, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan; tóm tắt nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng; tên tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong đơn.
  • Bộ Văn hóa - Thông tin quy định mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan;
  • Hai bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc hai bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan;
  • Giấy uỷ quyền, nếu người nộp đơn là người được uỷ quyền;
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác do được thừa kế, chuyển giao, kế thừa;
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung.

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Giấy ủy quyền, tài liệu chứng mình và các văn bản đồng ý của đồng tác giả, đồng chủ sở hữu phải được làm bằng tiếng việt, nếu là tiếng nước ngoài thì phải được dịch sang tiếng việt.

Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho người nộp đơn. Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn.Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam và được công bố trên Công báo về quyền tác giả, quyền liên quan.